Nhân viên văn phòng trên 50 tuổi đã có gia đình bị đổ mổ hôi lạnh vào mùa đông là do đâu

Tôi đã sai khi cố chịu đựng cơn bốc hỏa
Tiền mãn kinh thường xuất hiện khi chị em đến tuổi 40 đến 50. Thời kỳ tiền mãn kinh có thể ngắn từ 5 đến 7 tháng, có thể dài 1 đến 2 năm và cũng có người kéo dài hơn 10 năm. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, bệnh nặng nhẹ có liên quan đến trạng thái thần kinh, tinh thần, tâm lý của người phụ nữ.
Nguyên nhân và phân biệt các nhóm triệu chứng
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do hoạt động buồng trứng bắt đầu suy giảm và có sự mất cân bằng các nội tiết tố nữ khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh.
Tùy thuộc vào từng người mà các triệu chứng của thời kỳ này có thể xuất hiện với mức độ nặng nhẹ khác nhau. Theo thống kê, cứ 5 phụ nữ ở thời kỳ tiền mãn kinh thì có 1 người bị xáo trộn tâm, sinh lý không thể chịu đựng nổi.
Do đó, việc tìm ra giải pháp thích hợp để ngăn chặn tình trạng này là rất cần thiết, giúp phụ nữ trải qua thời kỳ này một cách nhẹ nhàng, đảm bảo sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống.
Các triệu chứng của tiền mãn kinh được chia thành 3 nhóm chính: hội chứng mãn kinh hữu cơ (loãng xương, rối loạn tim mạch, suy giảm sinh lý như giảm ham muốn, khô âm đạo…); hội chứng tâm lý (dễ bị kích thích, tâm trạng chán nản, hiệu suất thấp và thiếu tập trung); hội chứng mãn kinh thực vật (nóng bừng mặt hay còn gọi là “bốc hỏa”, đổ mồ hôi, mất ngủ, chóng mặt, nhức đầu, hồi hộp, lo âu).
Các triệu chứng cơ bản thường gặp
Ở giai đoạn tiền mãn kinh, mỗi người có những dấu hiệu, triệu chứng thay đổi khác nhau, không ai giống ai. Dấu hiệu phổ biến nhất ở hầu hết các chị em đó là sự thay đổi về chu kỳ kinh nguyệt cũng như tính chất. Các chị em thấy vòng kinh tự nhiên thưa hơn, có thể 1,5 tháng, 2,5 tháng, thậm chí lên tới 3 tháng và lượng kinh nguyệt ít dần.
Bên cạnh dấu hiệu phổ biến đó thì cũng có thể nhận biết được giai đoạn tiền mãn kinh qua một số biểu hiện gây ra sự khó chịu và ảnh hưởng tới đời sống như:
 Thay đổi ở làn da và mái tóc: Da khô hơn, giảm tính đàn hồi, dễ bị nhăn, đặc biệt là vùng quanh mắt, có thể xuất hiện những đốm đồi mồi, nám, tàn nhang, sạm màu. Tóc mất dần sắc tố và chuyển sang hoa râm.
– Chức năng tình dục suy giảm: Có hiện tượng giảm sự ham muốn tình dục trong chuyện chăn gối do niên mạc âm đạo khô, teo, dễ bị tổn thương hoặc chảy máu.
– Các biến đổi của âm đạo: Khi nồng độ estrogen trong máu suy giảm, mô lót mặt trong âm đạo và niệu đạo (dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài) trở nên khô, mỏng và kém đàn hồi hơn. Cùng với giảm chất nhầy bôi trơn âm đạo, sẽ bị cảm giác bỏng rát thường xuyên cũng như dễ bị nhiễm trùng niệu đạo và âm đạo. Những biến đổi này có thể gây khó chịu trong quan hệ tình dục.
– Rối loạn kinh nguyệt: Khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh đó là khoảng thời gian kinh nguyệt thất thường, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn, từ rất ít đến dồi dào. Nếu tiền mãn kinh diễn ra sớm thì đó là một sự thay đổi chu kỳ kinh nguyệt dài hơn 7 ngày.
– Cơn bốc hỏa (cảm giác nóng bừng mặt): Khi nồng độ estrogen suy giảm, các mạch máu có thể bị giãn ra nhanh chóng và làm cho nhiệt độ da tăng lên. Hiện tượng này có thể gây cảm giác nóng bừng lan từ ngực lên vai, cổ và lên đầu. Mồ hôi thoát ra nhiều rồi khô đi sẽ làm da mất nhiều nhiệt lượng, khiến cảm thấy ớn lạnh, mệt mỏi và uể oải. Mặt có thể trông giống như lúc xúc động, xuất hiện các điểm dãn mạch trên da ngực, cổ và cánh tay. Cơn bốc hỏa có thể kéo dài từ 30 giây đến 30 phút, thường gặp nhất khoảng 2-3 phút. Tần suất xảy ra cơn bốc hỏa thay đổi tùy người, có thể mỗi giờ một cơn hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện. Cơn bốc hỏa có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào, cả ngày lẫn đêm, có thể trong một vài năm, nhưng cũng có người không hề có triệu chứng này.
– Thay đổi tính khí: Tăng nhạy cảm hoặc dễ bị mất cân bằng trước những biến cố xúc cảm. Trước đây người ta nghĩ rằng các triệu chứng này là do sự biến đổi nội tiết tố.
– Rối loạn giấc ngủ và đổ mồ hôi trộm ban đêm: Đổ mồ hôi trộm ban đêm là một triệu chứng đi kèm thường gặp của cơn bốc hỏa. Ban đêm thường bị thức giấc, toát nhiều mồ hôi và cảm thấy ớn lạnh. Sau đó khó ngủ sâu trở lại. Khoảng 1/4 phụ nữ tuổi trung niên bị rối loạn giấc ngủ. Mất ngủ còn ảnh hưởng đến tính khí và tình trạng sức khỏe chung.
– Thay đổi bề ngoài: Sau mãn kinh, mỡ thường tập trung nhiều ở hông, đùi, khu trú trên vùng eo và bụng. Bộ ngực mất đi sự đầy đặn, tóc trở nên mỏng hơn và xuất hiện nhiều nếp nhăn da.
Tự xoa bóp điều trị hội chứng tiền mãn kinh
Y học cổ truyền có nhiều liệu pháp điều trị khác nhau, trong đó phải kể đến các thao tác tự xoa bóp.
1. Day ấn huyệt Thái dương: Dùng 2 ngón trỏ hoặc ngón giữa day ấn huyệt Thái dương trong 1 phút sao cho đạt được cảm giác căng tức là được. Vị trí huyệt Thái dương: ở chỗ lõm phía sau ngoài đuôi mắt 1 tấc, ấn vào có cảm giác ê tức.
2. Day ấn huyệt Ấn đường: Dùng ngón tay giữa day ấn huyệt Ấn đường trong 1 phút. Vị trí huyệt: ở điểm giữa của đường nối 2 đầu lông mày, thẳng sống mũi lên.
3. Xoa bụng dưới: Dùng 1 bàn tay xoa bụng dưới theo chiều kim đồng hồ với một lực vừa phải trong 1 phút.
4. Xát lưng: Dùng 2 bàn tay xát phía sau thắt lưng dọc theo 2 khối cơ cạnh cột sống, xát từ trên xuống dưới và ngược lại trong 1 phút sao cho vùng lưng nóng lên là được.
Để đạt được hiệu quả như mong muốn, cần tiến hành quy trình trên đều đặn, kiên trì mỗi ngày từ 1 đến 2 lần vào sáng sớm hoặc buổi tối trước khi đi ngủ. Lưu ý, trong khi làm đầu óc phải hết sức thoải mái và yên tĩnh.
Ngoài ra, chú ý đến chế độ ăn: kiêng mỡ, đường, ăn nhiều rau, các loại đậu, đặc biệt chế độ ăn cơm gạo lứt, muối mè đen thực sự có lợi để góp phần ngăn chặn bệnh phát triển.
Lưu ý, tinh thần thanh thản, vui tươi cởi mở, sinh hoạt điều độ là những điều kiện cần thiết để giảm nhẹ bệnh.

Phòng ngừa các chịu chứng khó chịu do tiền mãn kinh ở phụ nữ tiền mãn kinh

Thường khi vào giai đoạn tiền mãn kinh thì phụ nữ thường phải gánh chịu các triệu chứng của của giai đoạn này. Chính vì thế cần có sự hiểu biết để phòng ngừa hiệu quả. Dưới đây là các cách giúp phòng ngừa các triệu chứng tiền mãn kinh ở chị em tiền mãn kinh


Giảm căng thẳng khi mãn kinh

Stress/căng thẳng là vấn đề thường ngày của những người làm việc công sở. Đáng lo ngại hơn là có khoảng 1/3 trong số đó bị căng thẳng kinh niên.

Bạn có thể giảm căng thẳng bằng các phương pháp thư giãn như yoga, thiền hoặc hít thở sâu. Ví dụ, một bài tập hít thở theo nhịp có thể làm giảm thiểu 50% các cơn nóng bừng, các luồng nóng đột ngột hay xung nghiệt tập trung chủ yếu ở đầu và cổ.

Để giảm căng thẳng, bạn hãy thử tập theo các bước sau:

Hít vào thật chậm và sâu, sau đó thở ra từ từ đồng thời hóp bụng lại, hãy tiếp tục với khoảng 6-8 nhịp thở trong 1 phút nhé;
Thực hiện bài tập này hai lần mỗi ngày, mỗi lần 15 phút và mỗi khi cảm thấy cơ thể bị nóng bất thường.

Tăng cường giấc ngủ

Yoga, thái cực quyền và thiền định có thể giúp bạn dễ ngủ hơn vào ban đêm. Bất cứ loại bài tập nào cũng đều hỗ trợ cho giấc ngủ, tuy nhiên bạn nên chú ý không tập thể dục 3 tiếng trước giờ đi ngủ nhé.

Tốt nhất bạn đừng uống rượu bia trước giờ ngủ bởi rượu bia sẽ khiến bạn dậy muộn đấy. Thay vào đó, bạn có thể uống một cốc sữa ấm để dễ ngủ hơn. Nếu vẫn không ngủ được, hãy ngồi dậy và thử đọc sách đến khi cảm thấy buồn ngủ. Nếu tình trạng khó ngủ vẫn tiếp tục, hãy hỏi ý kiến bác sĩ về những giải pháp hỗ trợ giấc ngủ nhé.

Môi trường thoáng mát

Bạn nên làm việc trong một môi trường mát mẻ hoặc nơi làm việc có nhiệt độ mang lại sự dễ chịu cho bạn. Bạn có thể chọn ngồi gần cửa sổ hoặc sử dụng quạt bàn để giữ mát cho mình. Nếu phải tham dự những cuộc họp, bạn nên chọn ngồi ở vị trí mát nhất trong phòng họp.

Uống nhiều nước

Uống ít nhất 8 ly nước mỗi ngày có thể giúp giảm một số triệu chứng khó chịu thời kỳ mãn kinh. Uống nước giúp bạn bù đắp lại lượng nước cơ thể mất đi khi bị nóng. Vì vậy, bạn hãy đem theo bình nước giữ nhiệt đến nơi làm việc để có thể nạp nước mọi lúc mọi nơi.

Mặc đồ thoải mái

Ăn mặc thoáng mát giúp bạn hạn chế đổ mồ hôi. Bạn cũng nên tránh các loại chất liệu len, lụa hoặc vải không thấm mồ hôi vì những chất liệu này mang rất nóng và bí. Thay vào đó, hãy mặc đồ với chất liệu thoáng mát như vải coton chẳng hạn.

Ăn uống lành mạnh

Một chế độ ăn uống lành mạnh luôn có lợi cho cơ thể. Vào giờ ăn trưa, bạn nên ăn nhiều trái cây, rau củ, cá hoặc ngũ cốc. Những thực phẩm này giúp giảm các cơn xung nhiệt và đổ mồ hôi vào ban đêm, trong khi một chế độ ăn nhiều chất béo và đường ngược lại có thể làm các triệu chứng chuyển biến xấu thêm.

Bạn cũng nên hạn chế đồ ăn cay, uống cà phê, trà hay nước ngọt có chứa caffeine trước một bài thuyết trình lớn hay hội họp để tránh cảm giác hồi hộp, mất tập trung.

>>> Triệu chứng của tiền mãn kinh sớm có đáng lo

Thực phẩm giúp giai đoạn tiền mãn kinh nhẹ nhàng ở phụ nữ tiền mãn kinh

Phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh luôn phải đối mặt với những triệu chứng khó chịu ở thời kỳ này. Nguyên nhân là do thiếu hụt nội tiết tố bên trong cơ thể. Bài viết này giúp tìm ra các loại phù hợp cho giai đoạn tiền mãn kinh ở phụ nữ tiền mãn kinh


Cây đậu: Loại cây giàu estrogens

Một chế độ ăn uống hợp lý với lượng đậu tương được chứng minh sẽ làm giảm các triệu chứng mãn kinh nhưng cần ăn uống điều độ, trong trường hợp thỉnh thoảng bạn mới uống một ly sữa đậu thì kết quả sẽ không như mong muốn. Đậu là loại cây rất giàu estrogens, cung cấp lượng estrogen tự nhiên cần thiết cho cơ thể chúng ta .Để estrogen phát huy được tác dụng, bạn cần ăn ít nhất là 20gram đậu mỗi ngày. Với người Châu Á, món đậu này thường được ăn kèm trong các bữa ăn nhưng người Mỹ lại khác, họ không có thói quen ăn loại đậu giàu protein này. Khi không thường xuyên ăn đậu, bạn nên dùng các loại thực phẩm từ đậu như sữa, pho-mát, sữa chua,… Một điều bạn nên lưu ý: Nếu bạn nhạy cảm với đậu hoặc được bác sỹ khuyên hạn chế dùng đậu khi đang điều trị một số loại thuốc thì bạn nên bỏ qua bước này. Nên thường xuyên xin lời khuyên của bác sỹ trước khi có ý định thực hiện những thay đổi trong chế độ ăn uống của mình.

Các loại thức ăn khác từ loại cây giàu estrogens

Tuy các loại cây này không giàu estrogens (phytoestrogens) như cây đậu nhưng việc kết hợp các loại khác nhau như đậu, rong biển, táo…có thể tạo nên tác dụng tuyệt vời.

Những thực phẩm bạn cần hạn chế ăn

Tuy bạn không phải kiêng tất cả các loại thức ăn để làm giảm các triệu chứng mãn kinh nhưng có một vài loại thức ăn mà phụ nữ nên tránh dùng như: cafein, cồn và các loại gia vị cay nóng khác. Thêm nữa, nếu bạn gặp vấn đề với giấc ngủ thì nên hạn chế đến mức thấp nhất lượng caffeine từ cà-phê, trà, cola, đồ uống tăng lực. Giảm lượng muối ăn xuống (chọn lọc những loại thực phẩm chế biến và đóng gói ít muối) cũng có thể giúp hạn chế việc tích muối trong cơ thể.

Các điều trị bệnh gút mới nhất cho ngươi làm nhân viên công chức

Với sự tiến bộ của khoa họa kĩ thuật thì việc điệu trị bệnh gút cũng có những thay đổi so với trước. Vậy những thay đổi như thế nào và có phải là các điều trị bệnh gút hiệu quả nhất cho người làm nhân viên văn phòng


Cách chữa bệnh Gút theo Tây y

Tây y cho rằng gút là căn bệnh rối loạn chuyển hóa nhân purin gây tăng hàm lượng axit uric trong máu dẫn tới lắng đọng các tinh thể muối urat làm hình thành các cục tophi và gây ra cơn đau buốt dữ dội.

Hiện nay có 2 phương pháp để điều trị bệnh Gút theo thuốc tây:

Điều trị khi có các cơn Gút cấp

Phương pháp điều trị các các cơn Gút cấp nhằm chữa trị tạm thời cắt các cơn đau, giúp giảm đau nhức xương khớp, phòng ngừa các phản ứng viêm. Thuốc thường có tác dụng sử dụng trong 24h đầu tiên. Một số loại thuốc trị các cơn gút cấp không steriod có thể kể đến như Colchicine, naproxen, etoricoxib, ibuprofen…
  • Naproxen: có tác dụng giảm đau, kháng viêm và hạ sốt mạnh. Naproxene là thuốc không steriod của acide propionique, ức chế sinh tổng hợp của prostaglandine. Hoạt chất chính dưới dạng muối Na của thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn nên có tác dụng giảm đau xảy ra nhanh, sau khi uống thuốc khoảng 15 đến 30 phút.
  • Colchicine: Colchicine thực tế không phải thuốc giảm đau nhưng nó lại khá hiệu quả trong việc giảm sự tiếp xúc va chạm của tinh thể urat vào màng khớp. Thuốc viên colchicine cần được sử dụng càng gần thời gian diễn ra cơn đau càng tốt, tối đa là 24h sau cuộc tấn công gút, nếu không hầu như chúng sẽ vô tác dụng. Liều khuyến cáo của loại thuốc này là 0,5 mg 2 – 4 lần mỗi ngày, tùy thuộc vào cân nặng, độ tuổi và vấn đề sức khỏe. Một số người không thể dùng colchicine vì chúng gây ra tác dụng phụ như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy… Vì thế, hãy bắt đầu bằng một liều colchine thấp và tăng dần nếu bạn không thấy dấu hiệu gì bất ổn.
Hiện nay, có khá nhiều các loại thuốc giảm đau tương tự như vậy tuy nhên giống như tất cả các loại thuốc khác, thuốc chống viêm không steroid sẽ có thể để lại các tác dụng phụ dù bác sĩ kê giảm thiểu liều. Nhưng nếu sử dụng kéo dài bạn vẫn có thể gặp các vấn đề về tiêu hóa: rối loạn tiêu hóa, khó tiêu, hư hại niêm mạc dạ dày, các bệnh về thận, tim mạch…

Điều trị lâu dài để giảm axit uric trong máu

Các loại thuốc kể trên dùng để giảm bớt triệu chứng đau đớn của các cơn đau gút nhưng không có tác dụng giúp điều chỉnh, lấy lại cân bằng hàm lượng axit uric trong máu. Cách chữa bệnh gút lâu dài và hiệu quả nhất là tác động vào nguyên nhân gây bệnh chứ không phải đi chữa các hậu quả của bệnh.

Với phương pháp điều trị nhằm vào nguyên nhân gây bệnh, người bệnh thường sử dụng các loại thuốc giảm nồng độ axit uric, từ đó ngăn chặn sự lắng đọng tinh thể urat trong khớp xương, bào mòn các cục tophi đã hình thành trước đó. Một số loại thuốc tỏ ra hữu dụng trong trường hợp này có thể kể đến như:
  • Allopuronol: có tác dụng làm giảm sản xuất axit uric. Ban đầu bạn nên dùng liều thấp rồi tăng dần theo thời gian để tránh các tác dụng không mong muốn như phát ban hay đau bụng có thể xảy ra.
  • Febuxostat: cũng có tác dụng ức chế sự sản sinh axit uric và tăng cường đào thải ra bên ngoài theo hệ thống tiết niệu. Tuy nhiên, khi mới sử dụng Febuxostat cũng có khả năng gặp một số các tác dụng phụ của thuốc như: các cơn đau gút kéo đến nhiều, gặp các bệnh tiêu chảy, đau đầu, cơ thể mệt mỏi,..
  • Pegloticase: làm giảm axit uric một cách nhanh chóng hơn nhiều so với thuốc khác. Thuốc được tiêm mỗi tuần 2 lần vào tĩnh mạch. Các tác dụng phụ có thể gặp: buồn nôn, bầm tím vùng tiêm, đau họng, táo bón, đau ngực..

Những thực phẩm giúp nhân viên Kế toán 50 tuổi có 1 con giảm triệu chứng bệnh gút

Bệnh gout là một dạng viêm khớp, xảy ra khi lượng axit uric trong máu tạo ra các tinh thể, hình thành và tích tụ xung quanh khớp. Axit uric được sản xuất khi cơ thể phân hủy một chất hóa học gọi là purine. Purine là chất được sản sinh tự nhiên trong cơ thể, tuy nhiên nó cũng được tìm thấy trong một số loại thực phẩm.

Các loại thực phẩm an toàn có chứa ít hàm lượng purine


  • Rau xanh và cà chua;
  • Trái cây;
  • Bánh mì và ngũ cốc (không còn nguyên hạt);
  • Bơ, phô mai và trứng;
  • Sô-cô-la và ca cao;
  • Cà phê, trà và đồ uống có ga;
  • Bơ đậu phộng và các loại hạt.

Các sản phẩm sữa có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh gout


  • Sữa ít béo hoặc không béo;
  • Sữa chua ít béo.

Hãy thay đổi chế độ ăn uống của bạn ngay từ bây giờ để giảm nguy cơ mắc bệnh gout. Bên cạnh chế độ ăn uống hợp lý, bạn cũng cần duy trì cân nặng và sức khỏe bằng cách tập thể dục hằng ngày kết hợp điều chỉnh lượng chất béo và calo để có một cơ thể khỏe mạnh.

Cần tìm hiểu về bốc hỏa ở phụ nữ tiền mãn kinh

Bốc hỏa là triệu chứng mà đa số phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh đều mắc phải. Tuy nhiên nhiều chị em vẫn chưa biết nhiều về triệu chứng này. Bài viết này sẽ đưa ra các thông tin về bốc hỏa cho chị em tiền mãn kinh


Như thế nào là bốc hỏa?

Chị em đột nhiên thấy cơ thể nóng bừng, lan từ người lên đầu, lên mặt, lên cổ hay lan ra cánh tay có thể làm cho mặt ửng đỏ. Sau khi cơn nóng lên đến đỉnh điểm thường mồ hôi vã ra và cơ thể trở lạị bình thường. Cơn nóng bừng thường diễn ra từ 2-5 phút gọi là cơn Bốc Hỏa.Tùy thuộc vào cơ địa từng người mà số lần xuất hiện cơn bốc hỏa trong 1 ngày cũng khác nhau. Có người chỉ bị thoáng qua và vài ngày mới xuất hiện 1 cơn. Có người cơn bốc hỏa biểu hiện rõ rệt và xuất hiện hàng chục cơn 1 ngày. Bốc hỏa có thể xuất hiện vào ban đêm, làm ảnh hưởng đến giấc ngủ khiến chị em vô cùng khó chịu.

Bốc hỏa bắt nguồn do đâu?

Nguyên nhân gây bốc hỏa chủ yếu là do mất cân bằng nội tiết tố nữ estrogen. Khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh, cùng với quá trình lão hóa của cơ thể buồng trứng bị suy thoái dần nên lượng estrogen được sản xuất ra cũng giảm dần. Khi estrogen giảm, cán cân nội tiết mất thăng bằng, vùng dưới đồi – vùng não kiểm soát thân nhiệt, chu kỳ giấc ngủ… sẽ bị rối loạn. Điều này làm cho cơ chế điều hòa nhiệt độ của cơ thể bị rối loạn khiến xuất hiện các cơn nóng bừng bất thường và đột ngột. Khi nóng lên sẽ “Báo động” ngược trở lại khiến cơ thể lập tức vận hành để giải phóng nhiệt. Tim bơm máu nhanh, các mạch máu giãn ra, tuyến mồ hôi hoạt động mạnh để thải mồ hôi nhiều hơn và làm mát cơ thể. Chính vì vậy nên triệu chứng thường thấy đi kèm bốc hỏa là nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, vã mồ hôi, thở nhanh và nông, hồi hộp, trống ngực.

Phần lớn hiện nay, nhiều chị em chưa nhận biết được bốc hỏa là một dấu hiệu rất điển hình của tiền mãn kinh, mãn kinh hoặc biết đến nhưng không tìm được giải pháp và vẫn âm thầm chịu đựng mỗi ngày. Tuy không phải bệnh lý, nhưng bốc hỏa khiến chị em rất mệt mỏi, khó chịu, đặc biệt là những cơn bốc hỏa giữa đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ, từ đó sự mệt mỏi ngày càng tăng, khó chịu và cáu gắt ngày càng nhiều. Nhiều chị em không kiểm soát được những cơn nóng giận, bực bội với cả chồng, con, đồng nghiệp khiến các mối quan hệ trở nên căng thẳng, gia đình không còn êm ấm. Nguy hiểm hơn, bốc hỏa (do suy giảm nội tiết tố) nếu không được giải quyết kịp thời và triệt để có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như: bệnh lý tim mạch, mất ngủ kinh niên, huyết áp, loãng xương…

Các triệu biến chứng do acid uric ở đàn ông làm nhân viên công chức

Đa số mọi người đều nghĩ acid uric trong máu tăng cao chỉ gây ra bệnh gút. Đây là quan niệm sai lầm cần bỏ. Acid uric trong máu tăng cao còn là nguyên nhân của rất nhiều bệnh nguy hiểm ở người làm nhân viên công chức


BÉO PHÌ:

Có sự liên quan giữa trọng lượng cơ thể và nồng độ acid uric máu. Tỉ lệ bệnh gout tăng rõ rệt ở những người có trọng lượng cơ thể tăng trên 10 %. Béo phì làm tăng tổng hợp acid uric máu và làm giảm thải acid uric niệu, kết hợp của cả 2 nguyên nhân gây tăng acid uric máu. Theo các thống kê gần đây, 50 % bệnh nhân gout có dư cân trên 20 % trọng lượng cơ thể.

TĂNG LIPID MÁU:

Sự kết hợp giữa tăng TG máu và tăng acid uric máu đã được xác định chắc chắn. Có đến 80 % người tăng TG máu có sự phối hợp của tăng acid uric máu, và khoảng 50%-70% bệnh nhân gout có kèm tăng TG máu.
Ở bệnh nhân gout, ngoài sự rối loạn của thành phần TG, người ta còn nhận thấy có sự rối loạn của HDL, một loại lipoprotein có lợi, có tính bảo vệ đối với cơ thể. Sự liên quan giữa gout và rối loạn lipid máu chính là một phần của hội chứng chuyển hoá bao gồm tăng BMI, béo phì vùng bụng, tăng TG, giảm HDL, tăng huyết áp, tiểu đường, tình trạng đề kháng insulin và nguy cơ bị bệnh mạch vành. Tăng acid uric máu kết hợp với béo phì vùng bụng là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch có liên quan đến sự đề kháng insulin.

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:

Bệnh lý đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường typ 2 là bệnh lý thường gặp đi kèm với Gout. Bệnh lý đái tháo đường nằm trong hội chứng rối loạn chuyển hoá chung. Bệnh được đặc trưng bởi sự tăng đường huyết, mà nguyên nhân chính do thiếu hụt Insulin tuyệt đối hoặc tương đối. Bệnh lý đái tháo đường ở bệnh nhân Gout thường do sự đề kháng Insulin. Việc kết hợp nhiều bệnh làm cho việc điều trị gặp khó khăn, đòi hỏi phải kết hợp tốt điều trị nhiều bệnh cùng một lúc, và một chế độ dinh dưỡng hợp lý

TĂNG HUYẾT ÁP:

Tăng acid uric máu được phát hiện ở 22 – 38 % bệnh nhân tăng huyết áp không được điều trị. Tỉ lệ bệnh gout trong dân số tăng huyết áp là 2 –12 %. Mặc dù tỉ lệ tăng acid uric máu tăng ở đối tượng tăng huyết áp nhưng không có sự liên quan giữa acid uric máu và trị số huyết áp. Có 25 – 50 % bệnh nhân gout có kèm tăng huyết áp, chủ yếu ở các bệnh nhân béo phì. Nguyên nhân gây nên mối liên hệ giữa bệnh gout và tăng huyết áp hiện nay chưa được biết rõ.

NHỒI MÁU CƠ TIM:

Ở những bệnh nhân tăng acid uric máu có 20,1% bị hội chứng chuyển hóa, trong khi ở bệnh nhân không tăng acid uric máu thì con số này là 15,3%. Đồng thời, tăng acid uric máu có liên quan với tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột tử do tim ở những bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa.

Vữa xơ động mạch:

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ mối liên quan giữa gout và xơ mỡ động mạch. Tuy vậy tăng acid uric máu không phải là yếu tố nguy cơ trực tiếp của bệnh mạch vành. Tăng huyết áp, tiểu đường, xơ mỡ động mạch liên quan nhiều đến tình trạng béo phì hơn là liên quan đến sự tăng acid uric máu. ở bệnh nhân gout, các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như tăng huyết áp, béo phì, đề kháng insulin, tăng TG máu góp phần làm tăng sự liên quan giữa acid uric máu và xơ mỡ động mạch. Các yếu tố nguy cơ này tự nó làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch, và như vậy, acid uric máu chỉ gián tiếp làm tăng nguy cơ đột tử do bệnh tim mạch thông qua việc kết hợp với các bệnh lý có nguy cơ cao nói trên.